Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Xe Wave Trung Quốc gặp hạn

Sau khi xử lý thí điểm hơn 1.000 chiếc xe Future vi phạm kiểu dáng công nghiệp của hãng Honda, "chiến dịch" xử lý xe Wave lại bắt đầu. Ở Bắc Ninh, cơ quan chức năng đã thu giữ gần 40 xe vi phạm, ở Hải Dương cũng thu giữ 11 chiếc. Thanh Hóa, Tiền Giang, Hà Nội cũng đang vào cuộc... Trên thực tế, xe Wave bị xâm hại kiểu dáng công nghiệp trước xe Future.

Song vì nhiều lý do, việc xử lý vi phạm đến nay mới có thể thực hiện. Mới đây, Cục Sở hữu Công nghiệp đã có văn bản thẩm định kiểu dáng công nghiệp của các xe vi phạm và đi đến kết luận: Xét về tổng thể, mẫu xe vi phạm không khác biệt gì so với kiểu dáng công nghiệp của mẫu xe Wave đã được cấp bảo hộ theo Bằng Độc quyền Kiểu dáng Công nghiệp số 4306 của Honda. Do vậy, việc nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp và kinh doanh xe máy với kiểu dáng công nghiệp của Honda (dù với bất kỳ nhãn hiệu nào) mà không được phép của hãng là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định tại điều 805 Bộ luật Dân sự. Theo ông Lê Văn Thoan, Phòng Cảnh sát Kinh tế, Công an tỉnh Hải Dương, trên địa bàn tỉnh hiện có hơn 20 điểm bán xe máy, phần lớn trong số này đều bán xe Wave và Future Trung Quốc vi phạm kiểu dáng công nghiệp. Công an tỉnh trước đó cũng đã thu giữ 11 xe Future và đang tiến hành tiêu hủy.

Tuy nhiên, việc xử lý không thể dứt điểm vì các cơ quan chức năng chỉ "túm" được "ngọn". Tại địa lý bán lẻ xe máy Quỳnh Hương - số 30 đường Nguyễn Trãi, thị trấn Sao đỏ, mặc dù được thông báo đầy đủ chi tiết về việc xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi buôn bán, tiêu thụ xe máy vi phạm kiểu dáng công nghiệp, song chủ cửa hàng vẫn một mực cho rằng mình không hề biết các quy định đó mà thấy xe Tàu rẻ thì lấy về bán. Công an yêu cầu tháo bỏ các chi tiết vi phạm để đưa về xử lý, nhưng các chủ cửa hàng không đồng tình mà muốn được nhắc nhở để rồi bán tiếp. Bởi các đại lý này cho rằng, thật là bất bình đẳng khi mà chỉ có họ bị xử lý khi lưu hành các loại xe vi phạm, còn những nơi lắp ráp lại bình yên vô sự.
Các cơ quan hữu trách nói gì?
Thông thường, khi các doanh nghiệp lắp ráp một loại xe mới, họ phải qua Cục Sở hữu Công nghiệp để tra cứu kiểu dáng, nhãn hiệu, nếu không trùng với những mẫu xe đã được đăng ký bảo hộ thì họ mới được tiếp tục tiến hành công việc.

Theo ông Hoàng Văn Tân, Phó cục trưởng Cục Sở hữu Công nghiệp, Cục đã từ chối không ít trường hợp vì mẫu xe họ định lắp ráp vi phạm kiểu dáng công nghiệp. Còn ông Nguyễn Văn Ban, Cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam, cho rằng, căn cứ trên văn bản thẩm định của Cục Sở hữu Công nghiệp, các xe không vi phạm sở hữu công nghiệp thì bên cơ quan đăng kiểm mới kiểm tra xe mẫu và ký giấy chứng nhận chất lượng cho loại xe đó. Sau đó, doanh nghiệp chịu trách nhiệm cử người của mình, có trình độ chuyên môn, tự đứng ra làm thủ tục đăng kiểm cho các xe xuất xưởng. Có sai phạm thì các doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Ông Ban thừa nhận “xe qua đăng kiểm là xe không vi phạm” và phỏng đoán: “Rất có thể, các doanh nghiệp đã gia cố lại và cho xuất xưởng xe vi phạm kiểu dáng công nghiệp”.

Xe Trung Quốc đã đến hồi thoái trào

Sau gần hai năm khuynh đảo thị trường xe máy Việt Nam, giờ đây những chiếc xe giá rẻ này đã dần đánh mất niềm tin của người tiêu dùng. Ngay sau khi Công ty Honda cùng cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và xử lý xe vi phạm trên toàn quốc, các cửa hàng bán lẻ xe máy Trung Quốc đã bán tống bán tháo chỗ xe cũ, dừng lấy xe mới. Nhiều đại lý còn mang xe trả lại cho các doanh nghiệp lắp ráp. Theo các chủ đại lý thì loại xe này đã bộc lộ quá nhiều khuyết điểm, đặc biệt là chất lượng xe không bảo đảm.

XỬ LÝ VI PHẠM KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP – NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN BỎ NGỎ

Tình trạng vi phạm kiểu dáng công nghiệp (KDCN) ở nước ta ngày càng phổ biến, phức tạp và đa dạng. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến vấn đề này, hoặc nếu có quan tâm thì lại gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối phó với những vi phạm. Bài viết phân tích thực trạng vi phạm và tình hình xử lý vi phạm KDCN hiện nay, đồng thời đề xuất những giải pháp khắc phục.

THỰC TRẠNG VI PHẠM KDCN

Theo thống kê, mỗi năm Cục Quản lý Thị trường (Bộ Công thương) phát hiện và xử lý hàng nghìn vụ việc liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có kiểu dáng “cải tiến” của các kiểu dáng đã được đăng ký bảo hộ KDCN. Thực trạng này không những gây thiệt hại cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính cả về uy tín và doanh thu mà còn trực tiếp gây thiệt hại đến quyền lợi người tiêu dùng.

Từ lâu, cái tên Duy Lợi đã trở nên rất quen thuộc trong ngành võng xếp Việt Nam về cuộc chiến chống hàng giả, hàng nhái. Sau hành trình khó khăn, tốn kém, năm 2004, Công ty TNHH Duy Lợi đã thắng một vụ kiện tại Nhật Bản và năm 2005 đã thắng một vụ kiện khác tại Mỹ về việc vi phạm KDCN. Tuy nhiên, không lâu sau đó, Duy Lợi lại phải đau đầu vì tình trạng vi phạm kiểu dáng võng xếp của doanh nghiệp ở thị trường ViệtNam. Năm 2005, Duy Lợi tuyên bố có tất cả 16 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất võng xếp vi phạm kiểu dáng độc quyền sản phẩm võng xếp của mình.

Một ví dụ điển hình khác về vi phạm KDCN là trường hợp xe máy Honda. Thời gian gần đây, nhiều người tiêu dùng bất ngờ thấy có những địa chỉ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh rao bán các dòng xe Honda Spacy, SCR, AirBlade… với giá 16 triệu đồng/chiếc, thậm chí rẻ hơn. Theo giá niêm yết của Honda, hiện nay Honda Spacy chính hãng nhập khẩu có giá trên 90 triệu đồng/chiếc, còn xe AirBlade giá cũng khoảng trên 30 triệu đồng/chiếc. Như vậy, giá những chiếc xe “chợ đen” nêu trên được rao bán rẻ hơn rất nhiều so với xe gốc. Các sản phẩm xe máy chợ đen không chỉ nhái kiểu dáng bên ngoài, mà còn dán nhãn và gắn mác Honda lên trên sản phẩm. Theo ước tính của các chuyên gia, mỗi năm, thị trường Việt Nam tiêu thụ khoảng hơn 1 triệu chiếc xe máy giả, nhái, trong đó có đến 50% là xe giả, nhái Honda!
Tuy nhiên, không chỉ có các mặt hàng có giá trị lớn mới bị vi phạm quyền KDCN mà cả các mặt hàng có giá trị kinh tế thấp như kem xoa bóp, chai, lọ đựng sản phẩm, thậm chí cả đến bộ khay thờ cúng cũng bị vi phạm KDCN. Các cơ sở sản xuất hàng chợ đen thường lợi dụng uy tín của các doanh nghiệp với sản phẩm đã có thương hiệu để làm nhái, làm giả về kiểu dáng, bao bì, thậm chí nhãn mác. Thực trạng vi phạm ngày càng phức tạp, đa dạng, thiết nghĩ không chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp và người tiêu dùng, mà đã trở thành mối lo ngại chung của toàn xã hội, gây cản trở đến sự phát triển kinh tế.
Có nhiều lý do khiến tình hình vi phạm KDCN ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp. Trước hết, đó là vì hành vi sản xuất hàng giả, hàng nhái luôn tạo ra siêu lợi nhuận. So với hàng thật, hàng giả có mẫu mã, kiểu dáng giống hàng thật, nhưng có giá thành thấp hơn nhiều, do đó thường được khách hàng lựa chọn. Thứ hai, nhiều chủ sở hữu KDCN chưa thực sự ý thức và chú ý đến việc đăng ký bảo hộ độc quyền kiểu dáng sản phẩm của mình, chưa có kế hoạch bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ (SHTT) một cách khoa học. Thực tế, có rất ít doanh nghiệp Việt Nam có bộ phận chuyên chăm lo về SHTT, do đó việc phát hiện vi phạm SHTT nói chung và vi phạm về KDCN nói riêng thường không kịp thời. Một lý do nữa là, việc xử lý vi phạm KDCN mới chủ yếu dừng ở mức xử phạt hành chính, mức phạt cũng chưa đủ sức răn đe đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm.
TÌNH HÌNH XỬ LÝ VI PHẠM KDCN
Hiện nay, Việt Nam đã có đủ các biện pháp, chế tài xử lý các hành vi vi phạm về SHTT nói chung và KDCN nói riêng. Tuy nhiên, công tác thực thi nhìn chung còn yếu, hầu như mới sử dụng biện pháp xử phạt hành chính (vì quy trình giải quyết đơn giản và nhanh nhất). Các biện pháp xử lý hình sự còn phức tạp, tốn kém và chủ thể quyền SHTT thường gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện bảo vệ quyền SHTT của mình bằng biện pháp này.
Thông thường, trong trường hợp xảy ra vi phạm KDCN, việc giải quyết được thực hiện theo những bước sau: Điều tra thu thập chứng cứ vi phạm; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thẩm định, đánh giá chứng cứ vi phạm; soạn thảo văn bản cảnh báo bên vi phạm, đàm phán với bên vi phạm để yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết vi phạm khi không đạt được mục đích thông qua thương lượng, đàm phán.
Theo quy định của pháp luật SHTT hiện hành, chủ thể quyền SHTT phải gửi thông báo bằng văn bản yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và cơ quan thực thi chỉ vào cuộc nếu hành vi vi phạm của bên vi phạm vẫn diễn ra sau khi đã được cảnh báo. Chúng tôi cho rằng, việc yêu cầu bên bị xâm phạm phải có văn bản cảnh báo như vậy là không cần thiết, đôi khi còn “đánh động” bên xâm phạm, dẫn đến những hành động tẩu tán hoặc tiêu huỷ tang vật, chứng cứ. Sự không phù hợp này sẽ được loại bỏ khi Luật SHTT sửa đổi có hiệu lực áp dụng vào năm 2010. Theo đó, doanh nghiệp bị xâm phạm về SHTT chỉ cần chứng minh được hành vi cố ý xâm phạm quyền SHTT của họ là sẽ được thụ lý giải quyết theo trình tự hành chính (thay vì phải tự gửi thông báo tới đối tượng vi phạm và chờ đợi một khoảng thời gian để đối tượng “khắc phục khuyết điểm” như Luật hiện hành).
Một bất cập lớn trong việc thực thi quyền SHTT hiện nay là thiếu sự phối hợp xử lý một cách khoa học của các cơ quan chuyên trách. Hiện nay Việt Nam có tới 6 cơ quan được giao trách nhiệm bảo đảm thực thi về SHTT là toà án; quản lý thị trường; thanh tra (KH&CN, Văn hoá – Thể thao và Du lịch, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn); công an; hải quan; UBND các cấp. Mặc dù thẩm quyền của mỗi cơ quan đã được quy định rõ trong Nghị định 106 nhưng vẫn có hiện tượng chồng chéo. Điều này không chỉ khiến các chủ thể quyền SHTT lúng túng khi muốn liên lạc mà còn làm chính những cơ quan thực thi này nảy sinh tâm lý đùn đẩy, chờ đợi, dẫm chân lên nhau hoặc mạnh ai nấy làm. Việc có quá nhiều cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý trong khi sự phối hợp giữa các cơ quan này còn chưa hợp lý, khiến hiệu lực thi hành bị phân tán và trở nên phức tạp, gây ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi.
Cho đến nay, chưa có một cuộc điều tra tổng hợp nào về tình hình vi phạm SHTT nói chung và vi phạm KDCN nói riêng tại Việt Nam, mà mỗi cơ quan thực thi lại hoạt động độc lập, đưa ra những con số khác nhau, chưa kể số liệu đưa ra thường không cập nhật. Rõ ràng, chúng ta đang thiếu một đầu mối thống nhất để liên lạc trong trường hợp xảy ra vi phạm quyền SHTT nói chung, quyền KDCN nói riêng.
Trên thực tế, các cơ quan thực thi ở Việt Nam khi xử lý vi phạm thường vẫn còn tâm lý “giơ cao đánh khẽ” và luôn cân nhắc đến khả năng thực tế thi hành nên mức phạt đưa ra thường thấp, do đó không đủ sức răn đe đối với đối tượng vi phạm. Ngoài ra, bản thân các cán bộ chuyên trách xử lý vi phạm chưa hoàn toàn tự tin trong khâu xử lý do năng lực còn yếu, nên thường phải yêu cầu có ý kiến chuyên môn của Cục SHTT trong việc đánh giá hành vi, mức độ vi phạm. Sự phối hợp giữa các cơ quan này cũng chưa hợp lý, dẫn đến kéo dài thời gian xử lý.

BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ QUYỀN KDCN
Trước tình hình vi phạm ngày càng trở nên phổ biến, tinh vi, việc bảo vệ quyền KDCN rất cần sự vào cuộc của toàn xã hội. Tuy nhiên, bản thân doanh nghiệp phải là người chủ động trong việc bảo vệ quyền KDCN của mình. Trước hết, doanh nghiệp phải có ý thức đăng ký bảo hộ KDCN cho sản phẩm do mình sản xuất ra. Tiếp theo, khi đối mặt với hành vi vi phạm quyền KDCN của mình, doanh nghiệp phải tiến hành ngay các công việc cần thiết để yêu cầu cơ quan thực thi xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.
Về phía Nhà nước, cần cải cách bộ máy hành chính và phân công lại chức năng, quyền hạn của từng cơ quan thực thi quyền SHTT theo hướng bố trí một cơ quan làm đầu mối tiếp nhận, thụ lý các đơn yêu cầu xử lý hành chính, từ đó đề xuất các biện pháp xử lý. Tăng cường công tác thanh tra và sự phối kết hợp của các cơ quan chức năng để xử lý kịp thời khi phát hiện vi phạm. Bên cạnh đó, cần sắp xếp lại và tăng cường năng lực của các cơ quan thực thi.
Việc bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý để có đủ các chế tài xử lý và xử lý hiệu quả là rất cần thiết. Có nhiều ý kiến cho rằng, cần tăng mức phạt xử lý vi phạm hành chính đến mức đủ sức răn đe. Ngoài ra, cần phải bổ sung cơ sở để xác định mức phạt một cách cụ thể vào các văn bản pháp luật hiện hành. Hiện nay, do gặp khó khăn trong việc xác định mức phạt, nhiều cơ quan thực thi thường “ước lệ” mức phạt, và cũng do tâm lý luôn cân nhắc đến khả năng thi hành nên mức phạt đưa ra thường thấp so với giá trị hàng hóa bị vi phạm. Theo Luật SHTT (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ năm 2010, mức phạt tiền ít nhất bằng giá trị hàng hóa vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá 5 lần giá trị hàng hóa vi phạm đã phát hiện được như quy định trước đây (khoản 4 Điều 214 Luật SHTT cũ) được thay thế bằng mức phạt do Chính phủ quy định phù hợp với pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính (tối đa là 500 triệu đồng). Tuy nhiên, căn cứ để xác định mức phạt này vẫn còn chưa rõ ràng, chưa kể mức phạt tối đa được quy định là 500 triệu đồng nếu xét tới các hành vi vi phạm quyền SHTT mang lại lợi nhuận cao như sản xuất, lắp ráp ôtô, xe máy và phụ tùng là còn quá thấp.
Biện pháp trước mắt là phải tiến hành phổ cập kiến thức về SHTT cho toàn xã hội. Từ các doanh nghiệp chủ thể quyền SHTT, đến người dân và đặc biệt là các cán bộ chuyên trách trong xử lý vi phạm. Cuối cùng, nên cân nhắc đến việc hình thành tòa án SHTT chuyên xử lý các vụ vi phạm về quyền SHTT. Ở một số nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ và ngay cả ở châu Á như Malaysia, Singapore đã có tòa án SHTT riêng, bao gồm các thẩm phán và cả các chuyên gia trong lĩnh vực SHTT, nên việc xử lý vi phạm quyền SHTT rất hiệu quả. Tuy nhiên, trong khi chưa thành lập được tòa án chuyên môn, cần thành lập cơ quan trọng tài SHTT gồm đại diện các cơ quan chuyên trách để có thể đưa ra những ý kiến thống nhất trong việc xử lý vi phạm, giúp bảo vệ quyền SHTT nói chung và quyền KDCN nói riêng cho các doanh nghiệp một cách kịp thời, hiệu quả.

Muối tinh i ốt vi phạm kiểu dáng công nghiệp


Chi cục Quản lý thị trường Quảng Nam vừa tiến hành tiêu hủy bao bì trên 1,3 tấn muối tinh i ốt vi phạm kiểu dáng công nghiệp của Công ty cổ phần Muối và Thương mại miền Trung.

Sản phẩm muối tinh i ốt Visachef của Công ty cổ phần Muối và Thương mại Miền Trung đã được Cục Sở hữu Công nghiệp, Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có giá trị từ ngày 12-3-1999 đến 12-3-2014.

Theo đó, sản phẩm Visachef với màu xanh dương chủ đạo và 3 đường lượn sóng màu trắng ở mặt trước và mặt sau đã được phép lưu hành trong và ngoài nước.

kieu dang cong nghiep, vi pham kieu dang cong nghiep , muoi an
Kiểm tra sản phẩm mang nhãn hiệu Hatisal vi phạm kiểu dáng công nghiệp.

Trong tháng 5-2010, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Nam đã tiến hành kiểm tra và phát hiện tại Trung tâm Thương mại tỉnh, chợ Tam Kỳ, chợ Kế Xuyên, chợ Quán Gò và đặc biệt tại hiệu buôn Cường Mai, số 1 Tiểu La, Tam Kỳ hơn 1,3 tấn muối tinh i ốt mang nhãn hiệu Visalco và Hatisal của Công ty cổ phần Muối và Thương mại dịch vụ Hà Tĩnh vi phạm kiểu dáng công nghiệp.
Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Nam đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Trần thị Mai, chủ hiệu buôn Cường Mai, buôn bán hàng hóa vi phạm kiểu dáng công nghiệp với mức phạt 7.740.000 đồng và tiến hành tiêu hủy bao bì, loại bỏ yếu tố vi phạm kiểu dáng công nghiệp. 
Ông Văn Đình Phước, Phó Ban thị trường, Công ty cổ phần Muối và Thương mại Miền Trung, cho biết muối i ốt mang nhãn hiệu Visalco và Hatisaldo Công ty cổ phần Muối và Thương mại Miền Trung sản xuất được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường, trong đó có thành phố Đà Nẵng.
Việc vi phạm kiểu dáng công nghiệp nói trên đã gây tác động xấu đến người tiêu dùng và gây ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của công ty. "Chúng tôi sẽ tiến hành làm việc với Công ty cổ phần muối và thương mại dịch vụ Hà Tĩnh để buộc họ bồi thường những thiệt hại về kinh tế và uy tín của Công ty cổ phần Muối và Thương mại Miền Trung, nếu không, chúng tôi sẽ nhờ đến sự can thiệp của pháp luật”, ông Phước cho biết. 
Được biết, năm 2008, Công ty cổ phần Muối và Thương mại dịch vụ Hà Tĩnh cũng bị Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thừa Thiên-Huế phát hiện sản phẩm Visachif vi phạm kiểu dáng công nghiệp. Nay, đơn vị này đổi tên sản phẩm này bằng hai sản phẩm mới là Hatisal và Visalco…

Xe máy vi phạm kiểu dáng công nghiệp tràn lan...

Đầu tháng 4 vừa qua, Văn phòng luật sư Phạm và Liên danh - đại diện pháp lý cho hãng Honda Motor tại Việt Nam đã gởi văn bản đến Chi cục quản lý thị trường (QLTT) Đồng Nai đề nghị phối hợp xử lý tình trạng vi phạm kiểu dáng công nghiệp ở các mẫu xe gắn máy của Honda đang rất phổ biến trên thị trường. Theo đó, các mẫu xe của họ mặc dù đã được đăng ký độc quyền nhưng lại bị nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh xe gắn máy vi phạm một cách nghiêm trọng.

Tư vấn thương hiệu

Thương hiệu là linh hồn sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Phát triển, nuôi dưỡng thương hiệu đòi hỏi khả năng tích hợp tất cả các hoạt động marketing, marketing truyền thông, phát triển sản phẩm mới, chăm sóc khách hàng…để tạo được sự đồng nhất và hiệu quả tối đa lên phát triển thương hiệu.
Tư vấn thương hiệu
Tư vấn thương hiệu
Với kinh nghiệm qua tư vấn thương hiệu cho nhiều doanh nghiệp, điểm yếu của doanh nghiệp trong công tác phát triển thương hiệu nằm tại:
•    Khả năng phối hợp và sử dụng các kênh truyền thông.
•    Tổ chức và  tích hợp các hoạt động marketing, chăm sóc khách hàng, phát triển sản phẩm và dịch vụ mới…
Để  qua đó xây dựng kế hoạch phát triển thương hiệu phối hợp với kế hoạch kinh doanh.
Trong môi trường kinh doanh đa dạng, các hoạt động xoay quanh thương hiệu rất đa dạng như:
•    Xây dựng thương hiệu cho cá nhân ” Thương hiệu cá nhân”, thương hiệu cho các Tổ chức chính phủ,  Tổ chức phí chính phủ-phi lợi nhuận…
•    Tổ chức các khóa đào tạo, quản trị, nâng cao trình độ  quản trị và phát triển thương hiệu ngắn hạn dành cho các tổ chức nhà nước, doanh nghiệp.
Trong thực tế, rất nhiều doanh nghiệp sau một thời gian phát triển lên một mức độ cao hơn thường có có nhu cầu thay đổi và chuẩn hóa thương hiệu:
•    Làm mới thương hiệu
•    Chuẩn hóa thương hiệu
•    Xây dựng bộ nhận diện thương hiệu
•    Xây dựng thương hiệu tập đoàn
•    Nhượng quyền thương hiệu

Sở hữu trí tuệ - Phải được bảo vệ như tài sản có giá trị nhất

Đã có nhiều tập đoàn, doanh nghiệp nhận được bài học đắt giá về sở hữu trí tuệ. Theo phân tích của các chuyên gia, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố tạo nên thành công của doanh nghiệp.

Nhờ đăng ký sở hữu trí tuệ nhiều doanh nghiệp bảo vệ được sản phẩm của mình trước những hành vi làm hàng nhái, hàng giả.
Ông Nguyễn Văn Bảy, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và đào tạo cục trí tuệ cho rằng, khi đầu tư vào sở hữu trí tuệ thương mại sẽ mang lại lợi nhuận nhất định cho doanh nghiệp. Nếu không đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp sẽ gặp những rủi ro như mất thương hiệu, mất quyền sáng chế, mất quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp, mất bí mật thiết kế và sẽ bị các đối thủ khác cạnh tranh không lành mạnh của các đối thủ trên thương trường…
Tài sản trí tuệ được chú trọng, khai thác tối ưu có thể giúp doanh nghiệp tăng cường sức mạnh, nâng cao vị thế, uy tín, khả năng cạnh tranh, doanh thu, thị phần và lợi nhuận.
Những bài học đắt giá
Phó Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam Trần Quang Hùng cho rằng, đối với doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp công nghệ cao, quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề cốt lõi trong cạnh tranh và phát triển.
Chỉ tính riêng về tên miền thương hiệu, đã có nhiều tập đoàn, doanh nghiệp Việt Nam nhận được bài học đắt giá về sự chậm chân.
Thậm chí, có hàng loạt tập đoàn, công ty tên tuổi trong ngành công nghệ như Bkav, FPT, Viettel, Vinaphone, Mobifone và Vietcombank đều bị mất tên miền dot com (.com). Và nếu muốn mua lại, cái giá được đưa ra thường không hề nhỏ.
Sau hơn 2 năm đàm phán để mua lại tên miền bkav.com, đầu tháng 1/2012, công ty Bkav đã phải chấp nhận mua với giá 2 tỷ đồng. Trong khi đó nếu mua bkav.com trước khi chưa có ai đăng ký năm 2001, Bkav chỉ phải chi 10 USD (khoảng 200.000 đồng).
Dù có nhiều tham vọng với thương hiệu cà phê "chồn" nhưng Trung Nguyên vẫn để xảy ra nguy cơ mất tên miền thương hiệu này
Vụ việc gần đây nhất là Trung Nguyên để mất tên miền cà phê “chồn”. Trung Nguyên mua Legendee.com từ tháng 12/2011, nhưng hàng loạt tên miền có thể gây nhầm lẫn thương hiệu liên quan đến Legendee đã bị Trung Nguyên "bỏ quên".
Hiện Trung Nguyên chỉ sở hữu tên miền legendee.com, trong khi một cá nhân khác sở hữu tên miền legendee.com.vn và legendee.vn.
Trong tháng 4/2012, một cá nhân khác đã bất ngờ mua Legendeecoffee.com. Khi truy cập vào địa chỉ này, nội dung trong website quảng bá cho café Starbucks – một thương hiệu café nổi tiếng sắp vào Việt Nam.
Truy vấn thông tin từ nhà cung cấp tên miền Gltec, cá nhân đã đăng kí tên miền legendeecoffee.com là Nguyễn Trọng Khoa - người đang sở hữu hơn 500 tên miền thương hiệu quốc tế của Việt Nam.
Theo ông Hà Tuấn Anh - Tổng Giám đốc Vinalink Media đồng thời là một chuyên gia cung cấp các giải pháp liên quan đến thương hiệu, marketing online, SEO...: Legendeecoffee.com có thể gây nhầm lẫn rất lớn về mặt từ khoá trong các trang tìm kiếm với sản phẩm Legendee của Trung Nguyên. Legendee.com do Trung Nguyên đăng ký chỉ có phiên bản tiếng Việt mà không có phiên bản tiếng Anh đó là một vấn đề lớn nếu Trung Nguyên muốn phát triển thương hiệu của mình ra toàn cầu.
Trung Nguyên Café là một thương hiệu mạnh thực sự trên thị trường quốc tế và công ty này đang phát triển café chồn, một loại café từ khi Trung Nguyên chưa hình thành đã được nhiều người biết tới với cái tên như Kopi Luwak, riêng Trung Nguyên phát triển loại cafe chồn mang tên gọi Weasel Coffee - phiên bản đặc biệt của Weasel Coffee chính là Legendee.
Trước đó, năm 2010, một vụ ầm ỹ giữa café Trung Nguyên và cafe Highlands của Công ty cổ phần Việt Thái Quốc tế (VTI) đã diễn ra, khi tên miền trungnguyen.com.au (tên miền quốc gia của Australia) được dùng để quảng bá cho Highlands Coffee. Trung Nguyên cho rằng, Highlands cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên đại diện của VTI đã thẳng thừng bác bỏ điều này và khẳng định mình không hề có sự liên quan nào đến công ty đã đăng kí tên miền trungnguyen.com.au là Công ty The trustee for Hinchliffe Trust.
Trước khi vụ việc năm 2010 diễn ra, Trung Nguyên đã có bài học trong việc bị một doanh nghiệp nước ngoài đăng ký sở hữu trí tuệ tên và logo café Trung Nguyên với WIPO tại thị trường Mỹ, sau đó Trung Nguyên đã phải rất vất vả và tiêu tốn hàng trăm nghìn USD để lấy lại tên miền này.
Thế nhưng, dường như Trung Nguyên vẫn chưa rút ra được bài học từ các vụ việc trên và tiếp tục để tên miền thương hiệu cà phê “chồn” có nguy cơ bị mất.
Hay như ông Hà Tuấn Anh đã nói: "Dường như bộ phận phát triển thương hiệu của Trung Nguyên không đánh giá cao về Marketing Online và tầm quan trọng của SEO, hoặc Đặng Lê Nguyên Vũ không có người tư vấn về việc này".
Tên miền thương hiệu chỉ là một phần rất nhỏ trong hệ thống tài sản trí tuệ của doanh nghiệp, nhưng với tốc độ phát triển công nghệ thông tin, khi các đối tác kinh doanh, người tiêu dùng đang dần tạo thói quen với việc trao đổi, mua sắm trên mạng như hiện nay thì việc để mất tên miền chứa đựng rất nhiều rủi ro cho doanh nghiệp.
Bởi trên tế, việc các công ty sở hữu tên miền cố tình nhúng nhiều nội dung gây ảnh hưởng đến uy tín của công ty sở hữu thương hiệu, để ép công ty sở hữu thương hiệu phải chi tiền mua lại tên miền liên quan đến mình là việc làm khá phổ biến.
Phải được bảo vệ như tài sản có giá trị nhất
Ông Nguyễn Văn Bảy khuyến cáo, doanh nghiệp Việt Nam nên đặc biệt chú ý đến tài sản trí tuệ vì nó thực sự đã trở thành tài sản vô hình chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong tỷ lệ tài sản của doanh nghiệp.
Trước đây, quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn lạ lẫm với không ít doanh nghiệp nhưng nay đăng ký độc quyền sáng chế chính là cách để doanh nghiệp tự bảo vệ mình tránh trường hợp sản phẩm bị xâm phạm, làm giả trên thị trường.
Khi nghiên cứu và ứng dụng thành công một sản phẩm nào đó, điều mà doanh nghiệp nên nghĩ đến đầu tiên là đăng ký kiểu dáng công nghiệp và độc quyền sáng chế cho sản phẩm.
Ở các nước châu Âu như Hà Lan từ những năm thập niên 90, tài sản trí tuệ đã chiếm từ 30 – 40% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp.
Tại Nhật Bản, khảo sát gần 300 doanh nghiệp năm 2003 thì 40% tài sản của doanh nghiệp là tài sản trí tuệ, tại Mỹ năm 2000 tài sản trí tuệ chiếm tới 70%.
Tại Việt Nam, hiện nay nhiều doanh nghiệp cũng đã quan tâm hơn tới việc sở hữu trí tuệ. Cách đây hơn chục năm, năm 1996, công ty Phương Đông ở thành phố HCM bán thương hiệu kem đánh răng P/S cho tập đoàn Unilever với giá là 5 triệu USD, trong khi toàn bộ đất đai nhà xưởng, máy móc thiết bị thì chỉ được 3 triệu USD.
Đối với nước mắm Phú Quốc, vải thiều Lục Ngạn, bưởi Đoan Hùng, ngay sau khi được bảo hộ, giá bán đã tăng gấp từ 1,5 đến 2 lần.
Với ngành dệt may, việc đăng ký nhãn hiệu cũng được các doanh nghiệp chú trọng. Ông Thân Đức Việt- đại diện Công ty May 10 cho biết, Công ty này đã có hơn 40 nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam và đăng ký bảo hộ bản quyền thương hiệu tại 3 thị trường chính là châu Âu, Mỹ và Nhật Bản.
Ngoài ra, Công ty cũng thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát các cửa hàng, đại lý nhằm phát hiện và ngăn chặn hàng giả, hàng nhái trong hệ thống tiêu thụ …
Tại diễn đàn “Bảo vệ quyền SHTT” được tổ chức mới đây tại Hà Nội, ông Tạ Quang Minh, Cục trưởng Cục SHTT (Bộ Khoa học Công nghệ) cho biết: Hiện Việt Nam đã có hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ, đáp ứng tiêu chuẩn liên quan đến khía cạnh thương mại sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, để Sở hữu trí tuệ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu giúp các doanh nghiệp chiếm lĩnh ưu thế cạnh tranh trên thị trường trong nước, quốc tế, các doanh nghiệp và các cơ quan liên quan cần liên tục cập nhật thông tin và nhận thức về sở hữu trí tuệ. Trước khi phát triển một sản phẩm mới hay dịch vụ nào đó, doanh nghiệp cần tra cứu thông tin để tìm hiểu tình hình trên thế giới, tránh lặp lại những nghiên cứu sáng chế đã có.

Bảo hộ sở hữu trí tuệ sẽ giúp cạnh tranh lành mạnh

Ngày 4/4, tại Hà Nội, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) và Dự án “Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nâng cao hiểu biết và thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, nhằm tăng cường liên kết với chuỗi cung ứng toàn cầu trong sản xuất bền vững” (do Liên minh Châu Âu tài trợ, Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc thực hiện) đã phối hợp tổ chức Diễn đàn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Diễn đàn này nằm trong chuỗi các hoạt động kỷ niệm ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4.

Tại diễn đàn, các chuyên gia trong nước và quốc tế đã giới thiệu kinh nghiệm trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; vai trò, cách thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam; thảo luận về những thách thức và các giải pháp để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Đại diện các doanh nghiệp như Tổng Công ty May 10, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Tân Trường Sơn đã chia sẻ kinh nghiệm xây dựng nhãn hiệu và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của đơn vị mình.

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo (Cục Sở hữu trí tuệ) Nguyễn Văn Bảy đã giới thiệu về vai trò và cách thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ; hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ; các nguyên tắc bảo hộ như căn cứ phát sinh quyền sở hữu trí tuệ, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, nguyên tắc ưu tiên...

Theo ông Bảy, thủ tục đăng ký quyền sở hữu trí tuệ không quá phức tạp và chi phí rất nhỏ so với lợi ích thiết thức mang lại.

Nếu không đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp sẽ gặp những rủi ro như mất thương hiệu, mất quyền sáng chế, mất quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp, mất bí mật thiết kế và sẽ bị các đối thủ khác cạnh tranh không lành mạnh...

Khẳng định lợi ích của việc chứng nhận quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm, Phó Tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam Trần Quang Hùng cho rằng, đối với doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp công nghệ cao, quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề cốt lõi trong cạnh tranh và phát triển.

Sở hữu trí tuệ cần được bảo vệ như tài sản chủ yếu, có giá trị nhất của doanh nghiệp.

Đăng ký sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp sẽ được nhà nước bảo vệ quyền lợi như độc quyền ý tưởng, kiểu dáng, nhãn hiệu, thông tin sáng chế sản phẩm, tránh được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh của các đối thủ trên thương trường.

Tài sản trí tuệ được chú trọng, khai thác tối ưu có thể giúp doanh nghiệp tăng cường sức mạnh, nâng cao vị thế, uy tín, khả năng cạnh tranh, doanh thu, thị phần và lợi nhuận./.

Tại sao bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lại quan trọng

Hiện nay, người ta ngày càng quan tâm tới các vấn đề sở hữu trí tuệ. Nhưng đáng tiếc là vấn đề này lại thường xuyên được đề cập theo chiều hướng nhấn mạnh đến những điều gây tranh cãi và những tranh luận trái ngược nhau. Thực ra có rất nhiều nội dung về bảo vệ sở hữu trí tuệ mà mọi người có thể nhất trí được với nhau.

Để hiểu đầy đủ hơn về vấn đề này, chúng ta cần dành một chút thời gian xem xét quá trình phát triển của quyền sở hữu trí tuệ (IPR) và vai trò của IPR trong việc đạt được những những mục tiêu chung. Sau khi xem xét, chúng ta đi tới một kết luận rằng việc bảo vệ sở hữu trí tuệ đóng một vai trò sống còn trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng chỉ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không thôi sẽ không thể có được những phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng một quốc gia khó có thể đạt được những mục tiêu phát triển nếu không có sự bảo vệ này.

BẢN QUYỀN VÀ VĂN HÓA
Chúng ta có thể ghi nhận khái niệm về “bản quyền” đã có từ thế kỷ 17 ở nước Anh với luật bảo vệ những tác phẩm sáng tạo của văn sỹ, nghệ sỹ, ca sỹ và sau này là các nhà làm phim và chuyên gia viết phần mềm. Khái niệm này thậm chí còn được trang trọng ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ tại Điều I, Mục 8, Khoản 8 “Quốc hội có quyền … nhằm thúc đẩy tiến bộ khoa học và nghệ thuật bằng cách đảm bảo quyền tối cao của tác giả và nhà phát minh trong một khoảng thời gian nhất định đối với những tác phẩm và phát minh của họ”.

Ý tưởng cơ bản về bản quyền này rất đơn giản: Các nghệ sỹ và người sáng tác cần phải được hưởng thành quả lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định và sau đó thì những thành quả này sẽ thuộc về toàn thể xã hội. Xã hội được lợi bởi quy định này sẽ khuyến khích sáng tạo và tạo ra những sản phẩm văn hóa phong phú đa dạng cho mọi người. Thực chất thì chúng ta có thể nói rằng bảo hộ bản quyền là điều cần thiết để đảm bảo sự sáng tạo văn hóa trong xã hội.

Nhưng nếu việc bảo hộ bản quyền là quan trọng trong việc đạt được những thành quả văn hóa thì đương nhiên việc ăn cắp những sản phẩm được bảo hộ bản quyền - tức là việc sao chép trái phép các sản phẩm văn hóa - là mối nguy hại cho lĩnh vực sáng tác trong xã hội chúng ta. Nhiều tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) và thậm chí cả Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đều thừa nhận mối liên hệ này. Thực ra, nếu chúng ta truy cập trang web của UNESCO (http://www.unesco.org) thì chúng ta sẽ thấy cả một phần được dành cho vấn đề bản quyền và một danh sách các chương trình và ấn phẩm giải thích rõ hơn cho chúng ta về lợi ích của bản quyền đối với những chính sách văn hóa, khoa học, giáo dục và giúp ta có những phương thức chống lại nạn ăn cắp bản quyền.

Cho dù gần đây báo chí nói nhiều đến việc tải phim và nhạc trên mạng ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, nhưng thực ra những vi phạm nghiêm trọng phần lớn lại xảy ra ở các nước đang phát triển. Nhiều giọng ca mới, nhiều tác giả và kịch bản phim đã không thể ra đời đơn giản chỉ vì các nghệ sỹ này không có đủ động lực để chấp nhận mạo hiểm. Họ biết rằng cho dù họ có sản xuất ra sản phẩm gì chăng nữa thì sản phẩm của họ ngay lập tức sẽ bị sao chép - ăn cắp - và họ không được cung cấp đủ tiền bạc để phát triển tài năng của mình.

Đây không phải là một lập luận trừu tượng: Việc ăn cắp bản quyền diễn ra ở tất cả các châu lục. Một ví dụ điển hình là Hồng Kông, nơi ngành công nghiệp điện ảnh phát triển mạnh đã bị ảnh hưởng ghê gớm bởi nạn ăn cắp bản quyền đến nỗi một vài năm trước đây người ta dự đoán rằng Hồng Kông sẽ không giữ được ngành công nghiệp điện ảnh nữa. Hiện nay, ngành công nghiệp này ở Hồng Kông đang khởi sắc trở lại và khán giả khắp nơi trên thế giới được thưởng thức những bộ phim mới rất hay do chính quyền Hồng Kông đã mạnh tay xử lý nạn ăn cắp bản quyền. Các xưởng phim trong ngành công nghiệp điện ảnh của Băng-la-đét “Dhaliwood” đã đình công vào tháng 3 năm 2004 nhằm phản đối tình trạng ăn cắp bản quyền và yêu cầu chính phủ phải hành động. Những tiến triển tương tự cũng đã diễn ra trong ngành âm nhạc trên thế giới. Các nhạc sỹ Ê-ti-ô-pia đã đình công bảy tháng liền vào năm 2003 nhằm gây áp lực đòi chính phủ phải có những biện pháp chống nạn ăn cắp bản quyền mạnh mẽ hơn. Các nghệ sỹ này đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ những tác phẩm của họ trước những kẻ xâm phạm bản quyền.

BẰNG SÁNG CHẾ VÀ SỰ ĐỔI MỚI
Bằng sáng chế bảo hộ rất nhiều các loại phát minh như kiểu dáng công nghiệp, quy trình sản xuất, sản phẩm công nghệ cao, hợp chất phân tử. Bằng sáng chế cũng được ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ giống như bản quyền. Hiến pháp trao cho Quốc hội quyền thúc đẩy “sự tiến bộ của khoa học và nghệ thuật” bằng cách cho các nhà phát minh được hưởng độc quyền tối cao trong một thời gian nhất định đối với những “phát minh” của họ.
Khái niệm về bằng sáng chế dựa trên cơ sở thỏa hiệp có đi, có lại. Nhà phát minh hay sáng chế có độc quyền tối cao trong việc sử dụng phát minh của mình trong một thời gian nhất định. Để đổi lại, quy định của hầu hết các quốc gia đều yêu cầu nhà phát minh công bố phương pháp tìm ra phát minh để cho mọi người có thể hiểu và học hỏi được từ những phát minh này. Sau khi thời hạn bảo hộ phát minh hết hạn thì bất cứ ai cũng có thể sử dụng hay bán phát minh này. Nhà phát minh được khuyến khích về mặt kinh tế để chấp nhận rủi ro và sáng tạo; xã hội nhận được lợi ích của phát minh và kiến thức của nhà phát minh được ứng dụng trong những lĩnh vực khác.

Người Mỹ luôn tự hào là một dân tộc có nhiều nhà phát minh sáng chế sẵn sàng thử nghiệm những cái mới trong cả ngành công nghiệp lẫn cả trong chính trị. Vì vậy, bằng sáng chế là một phần quan trọng trong lịch sử phát triển của Hoa Kỳ. Mặc dù hầu hết học sinh Mỹ có thể không biết rằng bằng sáng chế được đề cập tới trong Hiến pháp nhưng nhiều học sinh biết qua các bài học rằng một trong những bằng sáng chế đầu tiên được cấp cho máy tỉa hột bông của Eli Whitney, chiếc máy có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển sau này của Hoa Kỳ.

Nếu những gì đã diễn ra ở Mỹ là đúng quy luật thì nó cũng sẽ đúng ở các quốc gia khác, kể cả ở những quốc gia đang phát triển. Việc bảo hộ chặt chẽ sở hữu trí tuệ không những chỉ thúc đẩy sức sáng tạo mà còn tạo ra niềm tin vững chắc vào nền kinh tế đó, đủ để thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường chuyển giao công nghệ. Điều này đã được chứng minh trong một số nghiên cứu về quan hệ giữa sở hữu trí tuệ, đặc biệt là bằng sáng chế, với tốc độ phát triển. Chẳng hạn như một nghiên cứu đáng chú ý của Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu năm 2002 của Ngân hàng Thế giới đã phát hiện ra rằng “dù cho các quốc gia có mức thu nhập khác nhau nhưng việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ luôn gắn liền với phát triển thương mại và đầu tư nước ngoài, nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn”. Một ấn bản khác năm 2002 của Ngân hàng Thế giới mang tựa đề “Cẩm nang Phát triển, Thương mại và WTO” đã chú dẫn một số nghiên cứu tuy chưa đưa ra được những kết quả rõ ràng nhưng cũng đã chỉ ra rằng việc bảo hộ mạnh mẽ bằng sáng chế có thể:

1) gia tăng thương mại toàn cầu;

2) thu hút thêm được đầu tư trực tiếp nước ngoài;
 3) tăng cường việc mua bán công nghệ và do đó có thể tăng năng lực sản xuất trong nước;
4) góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng.

Ngày nay, Giooc-đa-ni có thể là một ví dụ điển hình cho những kết quả nghiên cứu trên. Tại quốc gia này, việc gia tăng bảo hộ bằng sáng chế đã đem lại những lợi ích kinh tế hữu hình (xem bài “Giooc-đa-ni hưởng lợi từ việc cải cách việc bảo hộ sở hữu trí tuệ”). Viện Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (IIPI) đã công bố một báo cáo đầy đủ vào tháng 8 năm 2004 nghiên cứu việc thành lập ngành công nghiệp công nghệ dược và thuốc chữa bệnh từ cây cỏ có khả năng cạnh tranh toàn cầu của Giooc-đa-ni. Báo cáo phát hiện ra rằng “Kinh tế Giooc-đa-ni đã được hưởng lợi lớn từ việc bảo hộ sở hữu trí tuệ tốt hơn trong thời gian gần đây” theo như công bố của IIPI. Báo cáo nhấn mạnh hệ thống bảo vệ sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt hơn, đặc biệt là bảo vệ bằng sáng chế, “đã tăng cường tập trung vào những phát minh dựa trên nghiên cứu cho các công ty dược phẩm của Giooc-đa-ni”.

Điều này đã được thể hiện trong đóng góp tăng đột biến của ngành chăm sóc y tế, từ 2,8% năm 1997 lên tới 3,5% năm 2001, vào GDP của Giooc-đa-ni. Kể từ năm 1997 số lượng việc làm trong các lĩnh vực y tế tăng thêm 52%. Báo cáo cũng cho thấy “ngành dược phẩm là ngành lớn thứ hai ở Giooc-đa-ni và từ năm 1999 tới 2002 lượng thuốc xuất khẩu của các công ty Giooc-đa-ni tăng thêm 30%”.

NHÃN HIỆU VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG
Nhãn hiệu là một từ, cụm từ, ký hiệu, hay kiểu dáng, hoặc sự kết hợp các từ, cụm từ, ký hiệu hay kiểu dáng nhằm xác định và phân biệt nguồn gốc của hàng hóa do một người sản xuất với hàng hóa do những người khác sản xuất. Vì vậy, nhãn hiệu xác định được người sản xuất ra một mặt hàng và người ta dùng nhãn hiệu để biết được chất lượng của hàng hóa. Nhãn hiệu cũng giúp khách hàng biết địa điểm cung cấp sự trợ giúp khi hàng hóa không đạt chất lượng. Một số loại hình nhãn hiệu đã tồn tại tới vài ngàn năm nay. Du khách tới thăm Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc vẫn có thể thấy dấu hiệu của người sản xuất để lại trên một số những viên gạch. Dấu hiệu này cho phép các hoàng đế thời đó yên tâm về mặt chất lượng và trong trường hợp cần thiết thì có thể quy kết được trách nhiệm.
Việc đảm bảo chất lượng và quy kết được trách nhiệm đã hoàn toàn bị xóa sổ khi những kẻ làm hàng giả dùng nhãn hiệu và đánh lừa khách hàng bằng những sản phẩm do bọn chúng sản xuất. Khi nghĩ tới hàng giả, nhiều người có thể nghĩ ngay tới đồng hồ Rolex giả, bật lửa Zippo giả hay túi xách Louis Vuitton giả. Việc làm giả những sản phẩm này đã gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho các công ty sản xuất hàng xịn và khiến cho chính phủ thất thu thuế. Nhưng việc làm giả nhãn hiệu còn gây ra một hậu quả nghiêm trọng khác, đó là làm ảnh hưởng tới sức khỏe và sự an toàn của cộng đồng.

Hoa Kỳ cũng không thể tránh khỏi nạn làm hàng giả. Trong buổi tường trình trước Ủy ban Pháp luật Thượng viện Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 2004, Trợ lý Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ là Christopher Wray đã đưa ra những ví dụ về việc vi phạm nhãn hiệu. Ông nhấn mạnh rằng vào đầu năm 2004, một công dân bang Alabama đã nhận tội 28 lần làm hàng giả và bị buộc tội làm giả nhãn hiệu thuốc diệt côn trùng. Anh ta đã bán thuốc diệt côn trùng giả với nhãn hiệu giả của loại thuốc diệt muỗi và gián tiếp bán thuốc diệt virus West Nile cho các thành phố và doanh nghiệp tư nhân ở một số bang của Hoa Kỳ. Bị cáo đã không đưa ra được tên của thuốc diệt côn trùng, nhà sản xuất và các thành phần hoạt chất. Trong một vụ án khác năm 2002, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã kết tội một công dân bang California theo cáo trạng của liên bang vì liên quan đến âm mưu bán sữa bột giả cho trẻ sơ sinh. Sau khi bán sữa bột cho trẻ sơ sinh giả cho hàng ngàn trẻ em, những nạn nhân dễ bị tổn thương nhất, bị cáo đã trốn sang Canada năm 1995. Hắn đã bị bắt ở Canada năm 2001 và năm 2002 được đưa về xét xử tại Hoa Kỳ.

Nạn làm hàng giả cũng gây ra nguy cơ đe dọa nghiêm trọng tới an toàn và sức khỏe cộng đồng ở những quốc gia đang phát triển. Một bi kịch khủng khiếp hơn đã diễn ra ở Trung Quốc. Vào tháng 5 năm 2004, hãng tin AP đưa tin từ Bắc Kinh cho biết 47 tên đã bị kết tội bán sữa bột giả cho trẻ sơ sinh và chính quyền cho biết hành động này là nguyên nhân gây ra cái chết của hàng chục trẻ em. Theo bài báo, cuộc khám xét sau đó của cảnh sát đã phát hiện ra hàng ngàn bao đựng sữa bột giả với nhãn mác của 45 loại sữa khác nhau.

Thuốc tân dược giả cũng đã trở thành một vấn nạn nghiêm trọng gây chết người ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển. Không ai biết rõ về điều này hơn Dorothy Akunyili, Giám đốc Cơ quan Quốc gia Kiểm tra và Quản lý Thuốc và Thực phẩm của Nigeria. Câu chuyện của bà được kể chi tiết trên trang nhất tờ Nhật báo Phố Wall vào tháng 5 năm 2004 cứ như thể một câu chuyện xảy ra trong tiểu thuyết. Nhưng đáng tiếc đó lại là chuyện có thật chứ không phải là chuyện giả tưởng. Việc điều tra và chống lại nạn làm thuốc tân dược giả đã khiến bà bị mưu sát và cơ quan bà bị phóng hỏa. Nhưng bà vẫn anh dũng tiếp tục công việc của mình với niềm thôi thúc cá nhân do em gái bà đã chết vì bị tiêm thuốc insulin giả. Cũng giống như nhiều người khác, bà hiểu rõ nguy cơ và hiểm họa của nạn hàng giả.

SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ XÃ HỘI
Có một điểm chung xuyên suốt các vấn đề về bản quyền, bằng sáng chế và nhãn hiệu vừa được đề cập ở trên. Việc thúc đẩy sự phát triển văn hóa, tăng cường sức sáng tạo và phát triển kinh tế, bảo vệ sự an toàn và sức khỏe cộng đồng là những mục tiêu chung. Tất cả chúng ta đều muốn sống trong những xã hội tôn vinh và thúc đẩy những giá trị này. Trong khi bàn luận về sở hữu trí tuệ ngày nay, chúng ta cần nhớ tới vai trò của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Hoa Kỳ hết sức tin tưởng vào giá trị của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vì những lý do đã nêu trên và nhiều lý do khác và Hoa Kỳ sẵn sàng cộng tác với các quốc gia khác nhằm tăng cường việc bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Theo bảng xếp hạng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), năm 2012 Việt Nam bị tụt hạng trên bảng chỉ số đổi mới toàn cầu, xếp thứ 76/141 (năm 2011 xếp thứ 51/125, 2010 là 71/132...). Nghĩa là tính đổi mới, sáng tạo của nước ta thuộc vào loại kém.

Kết quả này thật đáng buồn nhưng không sai. Chúng ta vẫn luôn tự hào là thông minh và sáng tạo, nhưng chỉ có bình quân 1 sáng chế được đăng ký ở nước ngoài hằng năm, trong khi con số này ở hầu hết các nước khu vực Đông Nam Á đều rất cao. Cụ thể như năm 2011, Singapore có 647 bằng/4,8 triệu dân, Malaysia 161/27,9 triệu, Thái Lan 53/68,1 triệu, Philippines 27/93,6 triệu... Đáng nói là tình hình vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng gia tăng trong khi việc thực thi pháp luật về quyền SHTT tại VN còn kém hiệu quả. Nguyên nhân chính là đa phần người dân, doanh nghiệp thiếu hiểu biết về SHTT, dẫn đến việc tôn trọng pháp luật SHTT thấp.

Ông Brian Neubert, Trưởng phòng Kinh tế, Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM, cho biết 27 triệu việc làm tại Mỹ trực tiếp về lĩnh vực SHTT. Nếu tính cả những công việc có liên quan SHTT thì con số này lên đến 40 triệu, chiếm 1/3 trong tổng số việc làm tại nước này. Không chỉ thế, các hiệp định tự do thương mại, đặc biệt là các vòng đàm phán Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương mà VN cũng là một thành viên, đều bao gồm những tiêu chuẩn rất cao về bảo vệ quyền SHTT không chỉ cho doanh nghiệp các nước, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát minh và sáng tạo của các nước.

PGS-TS Phan Minh Tân, Giám đốc Sở KH-CN TP.HCM, cũng khẳng định hoạt động SHTT rất quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và phát triển kinh tế tri thức của đất nước. Trong nền kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ (tài sản vô hình) có giá trị rất to lớn, có thể chiếm trên 80% trong tổng giá trị tài sản vô hình và hữu hình của các công ty hàng đầu trên thế giới. Do vậy, có thực thi pháp luật về SHTT, bảo vệ tài sản trí tuệ thì mới kích thích sáng tạo, phát triển tài sản trí tuệ.

Để khắc phục tình trạng vi phạm SHTT tại VN, Hội SHTT TP.HCM đã triển khai chương trình Nâng cao nhận thức công chúng về tôn trọng và bảo vệ quyền SHTT năm 2012, với một chiến dịch kéo dài trong 1 tháng (từ ngày 15.10 - 15.11) tuyên truyền cổ động về SHTT dưới dạng khẩu hiệu, hình ảnh tại các địa điểm công cộng, trên internet và báo chí, với sự hỗ trợ của Sở KH-CN và Lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM.

Bảo vệ sở hữu trí tuệ: Vì sao? Thế nào?

Bao ve so huu tri tue Vi sao The nao
Kiểu dáng hình số 8 của chai Coca-cola được đăng kí bản quyền ngay từ thủa "khai sinh".
Sở hữu trí tuệ thực chất là gì? Tại sao phải coi nó là yếu tố sống còn của 1 doanh nghiệp, thậm chí với cả những doanh nghiệp có quy mô khiêm tốn nhất?

Sở hữu trí tuệ (SHTT) không đơn giản chỉ là những tấm bằng sáng chế bạn đang nắm giữ trong tay. Tùy từng trường hợp, nó còn có thể là thương hiệu, hình ảnh, âm điệu, phần mềm, các tác phẩm hội họa, nói tóm lại là bất cứ sản phẩm gì do lao động trí óc tạo ra.

Khi xã hội phát triển, nhu cầu vật chất thiết yếu được đáp ứng đầy đủ thì những giá trị tinh thần này càng được coi trọng. Nếu người nắm giữ sản phẩm vô hình này không biết cách bảo vệ, rất dễ dàng chúng sẽ “trôi tuột” vào tay kẻ khác.

Chính vì thế, vấn đề về bản quyền, bằng sáng chế, đăng kí thương hiệu luôn được đặt ra như một trong những điều kiện tiên quyết đối với sự thành bại của doanh nghiệp. Dù đó chỉ là cái tên hay một đặc trưng nào đó của sản phẩm/ dịch vụ, thì giải quyết tốt vấn đề SHTT sẽ giúp doanh nghiệp duy trì bước phát triển bền vững cũng như đón đầu đối thủ trong các chiến lược cạnh tranh.
Xuất phát điểm đầu tiên của SHTT phải nằm trong chính kế hoạch kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp. Trong đó, cần chú trọng những điểm sau:
- Bằng sáng chế: Đó là những văn bằng hợp pháp miêu tả chi tiết những phát minh kĩ thuật, cho phép người sở hữu, trong thời gian hiệu lực nhất định, khai thác, hưởng lợi từ phát minh đó, đồng thời có quyền ngăn cấm bất kì ai khác sử dụng chúng.
- Bản quyền: là sự bảo vệ hợp pháp đối với 1 sản phẩm mang tính sáng tạo, ví dụ: tác phẩm hội họa, âm nhạc, văn chương, các bộ phim, chương trình phát sóng, các bản thu âm, phần mềm máy tính... Khác với bằng sánh chế, bản quyền tự động phát sinh ngay từ khi tác phẩm được tạo lập và xuất bản. Bản quyền có thể bảo vệ quyền lợi của người sở hữu khi không có bằng sáng chế.
- Nhãn hiệu được đăng ký: là cơ sở pháp lý để xây dựng và phát triển thương hiệu, là công cụ để tạo nhận thức và gây ấn tượng về sản phẩm/ dịch vụ trong tâm trí người tiêu dùng.

Vì sao phải bảo vệ sở hữu trí tuệ?

Một trong những lợi ích thiết thực dễ thấy nhất từ SHTT là đặc quyền sử dụng phát minh, sáng chế, thương hiệu. Điền này tạo ra vị thế cạnh tranh rõ rệt đối với các đối thủ trên thương trường.

Không những thế, bản chất của những sản phẩm mang tính sáng tạo là khả năng tạo ra lợi nhuận cao. Do đó, quản lý tốt vấn đề SHTT có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng doanh thu, lợi nhuận cũng như các chỉ số tăng trưởng hàng năm của doanh nghiệp.

Đối với những doanh nghiệp đang tìm cách tăng vốn, quản lý SHTT có thể là 1 công cụ hữu ích, bởi nó làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư cũng như các nhà phân tích. Ví dụ, 1 doanh nghiệp nắm trong tay càng nhiều bằng sáng chế thì càng được định giá cao, cả trước và sau khi phát hành cổ phiếu.

Những lý do trên đây không chỉ đơn thuần giải thích cho sự cần thiết và tầm quan trọng của quản lý SHTT trong từng doanh nghiệp, mà hơn hết, nó còn đặt ra một câu hỏi vô cùng thiết thực: vậy các đối thủ cạnh tranh khác đã có chiến lược quản lý SHTT hay chưa, họ đã nắm trong tay những bảo bối SHTT nào?
Đó là câu hỏi thực sự cần lời giải đáp.

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH

TRẦN MINH DŨNG – Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ
I. Quy định pháp luật về biện pháp hành chính xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1. Tại sao sử dụng biện pháp hành chính để xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?
Khác với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền sở hữu trí tuệ có đặc điểm là đối tượng quyền tồn tại chủ yếu dưới dạng thông tin, do đó có khả năng lan truyền rộng lớn và dễ có khả năng được vật chất hoá hàng hoạt, sau đó trở thành thực thể tác động, ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người, cũng như của cả xã hội. Do vậy, một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây hậu quả tiêu cực cho người nắm giữ quyền bị xâm phạm đó, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều người tiêu dùng khác, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội.

Như vậy, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng là hành vi vi phạm pháp luật về bảo hộ và quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (Nhà nước đã xác lập quyền cho chủ thể quyền và nghiêm cấm hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu trí tuệ) và gây ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thể quyền, lợi ích của người tiêu dùng và gây ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội cần phải loại trừ. Do vậy, trong một số trường hợp nhất định, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể coi là hành vi vi phạm hành chính.

Pháp luật về sở hữu trí tuệ có quy định về việc Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền và việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là hành vi vi phạm pháp luật. Một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây tổn hại cho chủ thể quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà còn có thể gây thiệt hại đến lợi ích của người thứ ba – người tiêu dùng trong xã hội và có thể nói là gây tổn hại cho lợi ích của xã hội. Ví dụ, việc xâm phạm quyền đối với một nhãn hiệu hàng hoá, thì hành vi xâm phạm quyền đó không chỉ gây tổn hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu bị xâm phạm (giảm thị phần, giảm lợi nhuận, làm suy giảm lòng tin của khách hàng vào sản phẩm mang nhãn hiệu đó…), mà còn gây thiệt hại cho người tiêu dùng khi mua phải hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu hàng hoá đó (như chất lượng không được như hàng thật nhưng phải trả tiền với giá trị tương đương với hàng thật; đôi khi còn gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng nếu hàng giả, hàng nhái đó liên quan đến thực phẩm hoặc dược phẩm…).

Trong bối cảnh trình độ công nghệ ngày càng cao, việc sản xuất các sản phẩm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể được tiến hành với quy mô lớn và hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được lưu thông với phạm vi rộng, khiến cho số người bị ảnh hưởng hoặc bị tổn hại cũng sẽ chiếm số đông trong xã hội. Vì vậy, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng thuộc loại hành vi chống lại lợi ích xã hội. Do đó, bên cạnh quan hệ dân sự, vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được xem xét và xử lý theo khía cạnh hành chính. Mục tiêu của biện pháp hành chính trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ là bảo vệ lợi ích của người thứ ba và của xã hội, cũng chính là gián tiếp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền.


2. Cơ sở pháp lý sử dụng biện pháp hành chính để xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Khái niệm “biện pháp hành chính” được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Văn bản luật này được xây dựng trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực sửa đổi hệ thống pháp luật quốc gia để đáp ứng các tiêu chuẩn của Hiệp định TRIPS, nhằm mục tiêu trở thành thành viên của WTO. Có thể nói rằng, việc đưa khái niệm “biện pháp hành chính”, bên cạnh “biện pháp dân sự”, “biện pháp hình sự”, “biện pháp kiểm soát biên giới” vào văn bản luật nói trên[2] là thể hiện sự chuyển thể các quy định tương ứng của Hiệp định TRIPS vào thành vào hệ thống văn bản pháp luật quốc gia.
Khái niệm biện pháp hành chính, theo nghĩa rộng, có thể hiểu là bao quát hết các khái niệm thường dùng trong hệ thống pháp luật hành chính của Việt Nam như chế tài hành chính, hình thức xử lý hành chính, biện pháp xử lý hành chính, thủ tục xử lý hành chính .v.v. được áp dụng để xử lý các hành vi vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong một lĩnh vực nhất định. Theo nghĩa này, biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là bao gồm toàn bộ các thủ tục hành chính, hình thức hay biện pháp xử lý hành chính mà có thể áp dụng đối với các hành vi đó theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, bao gồm cả Luật Sở hữu trí tuệ và Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
Khái niệm biện pháp hành chính, theo nghĩa hẹp, có thể hiểu bao gồm các hình thức xử lý hành vi vi phạm và các biện pháp xử lý hàng hoá xâm phạm, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Theo nghĩa này, biện pháp hành chính bao gồm các hình thức xử phạt hành chính (biện pháp xử lý hành vi xâm phạm) và biện pháp khắc phục hậu quả (biện pháp xử lý hàng hoá xâm phạm) quy định tại Điều 214 của Luật Sở hữu trí tuệ.[3] Thêm vào đó, nhằm để thực hiện các biện pháp hành chính, các quy định về thẩm quyền xử phạt,[4] thủ tục xử phạt[5] và các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính[6] theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ.
3. Điều kiện áp dụng biện pháp hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Những điều kiện cơ bản để thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính gồm:
(i) Có quy định pháp luật về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Nói cách khác cần có căn cứ pháp lý để áp dụng biện pháp hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền.
(ii) Có cơ quan/người được trao thẩm quyền tiến hành biện pháp xử lý hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, người có thẩm quyền xử lý phải được trang bị kiến thức chuyên môn và/hoặc có sự hỗ trợ kịp thời và đầy đủ về mặt chuyên môn để có đủ khả năng xác định hành vi xâm phạm và áp dụng biện pháp xử lý phù hợp đối với hành vi xâm phạm.
(iii) Có thủ tục cho phép chủ thể quyền yêu cầu cơ quan thực thi áp dụng biện pháp hành chính đối với hành vi xâm phạm; cho phép người có thẩm quyền chủ động phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ trong quá trình thực hiện chức năng quản lý của mình; cho phép công dân tố cáo và đề nghị xử lý hành vi xâm phạm quyền bằng biện pháp hành chính.
4. Nội dung biện pháp hành chính áp dụng đối với vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ
Bản chất biện pháp hành chính là sử dụng sức mạnh quyền lực của các cơ quan hành chính (nằm trong hệ thống hành pháp) thông qua các quyết định hành chính và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính đó để xử lý các vi phạm hành chính. Như vậy, có hai yếu tố cấu thành nên biện pháp hành chính, đó là: vi phạm hành chínhquyết định của cơ quan hành chính xử lý vi phạm hành chính.
- Vi phạm hành chính:
Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm phạm các quy tắc quản lý Nhà nước, nhưng mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính có quy định: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Như vậy, vi phạm hành chính có bốn điểm cơ bản sau:
(i) Hành vi trái pháp luật vi phạm các quy tắc quản lý Nhà nước;
(ii) Hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý;
(iii) Mức độ nguy hiểm của hành vi thấp hơn tội phạm;
(iv) Pháp luật quy định hành vi đó phải bị xử phạt hành chính.
Như vậy, biểu hiện trước hết của vi phạm hành chính chính là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân hoặc tổ chức (chủ thể hành vi) vi phạm pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước hay của công dân và gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội; là biểu hiện tiêu cực cần phải loại trừ.
Biểu hiện thứ hai của vi phạm hành chính là mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật. Vì hành vi vi phạm hành chính và tội phạm đều là những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước và thường là các điều pháp luật ngăn cấm, song tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính thấp hơn tội phạm, tức là chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Một điểm quan trọng nữa là hành vi vi phạm hành chính phải được pháp luật quy định. Nói cách khác, nếu pháp luật không quy định hành vi vi phạm pháp luật đó phải chịu trách nhiệm hành chính thì không coi hành vi đó là vi phạm hành chính. Hiện nay, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đã giao thẩm quyền quy định hành vi vi phạm hành chính cho Chính phủ, do vậy nếu không có Nghị định của Chính phủ quy định hành vi vi phạm pháp luật đó phải chịu trách nhiệm hành chính, thì không được coi hành vi vi phạm pháp luật đó là vi phạm hành chính.
- Quyết định áp dụng biện pháp hành chính:
Cơ quan hành chính, gồm cả người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính, chính là chủ thể áp dụng biện pháp hành chính. Về bản chất, đó là việc cơ quan quản lý Nhà nước nằm trong hệ thống hành pháp dùng sức mạnh của quyền lực Nhà nước để ra những quyết định mệnh lệnh hành chính đơn phương buộc người vi phạm hành chính phải thực hiện quyết định hành chính đó. Hành vi vi phạm hành chính bị xử lý thông qua quyết định của cơ quan hành chính có thẩm quyền.
Ngoài các quyết định hành chính xử lý vi phạm hành chính về sở hữu trí tuệ của người có thẩm quyền thuộc các cơ quan hành chính, biện pháp hành chính trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ còn bao gồm cả các quyết định, thủ tục nhằm bảo đảm việc thi hành các quyết định hành chính đó. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền có thể ra các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính, nhằm bảo vệ chứng cứ hoặc duy trì các điều kiện vật chất của tổ chức, cá nhân vi phạm.[7]
Trong thời hạn nhất định, nếu đối tượng bị áp dụng quyết định xử phạt hành chính không tự giác thực hiện quyết định đó thì sẽ bị cưỡng chế thi hành. Người có thẩm quyền xử phạt có quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử lý hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, và trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu tổ chức tín dụng, ngân hàng nơi tổ chức, cá nhân mở tài khoản thực hiện việc thanh toán các khoản tiền phạt theo quyết định xử phạt.[8]
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu trí tuệ có thể bao gồm các hình thức, biện pháp xử lý sau:
(i) Hình thức xử phạt chính là: Cảnh cáo hoặc phạt tiền;[9]
(ii) Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không có thời hạn giấy phép có liên quan đến hoạt động sở hữu trí tuệ; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính về sở hữu trí tuệ;[10]
(iii) Các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu huỷ vật phẩm, hàng hoá vi phạm; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên sản phẩm, hàng hoá, phương tiện kinh doanh; buộc phân phối hoặc sử dụng vào mục đích phi thương mại với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác thương mại bình thường của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.[11]
Tuy nhiên, không phải bất cứ cơ quan quản lý Nhà nước nào cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và được xử phạt bất kỳ loại vi phạm hành chính trong tất cả các lĩnh vực. Chỉ có những cơ quan Nhà nước được pháp luật quy định mới được thực hiện quyền xử phạt và chỉ có quyền xử phạt những hành vi vi phạm trong lĩnh vực được pháp luật giao cho. Mặt khác, không phải bất cứ ai trong cơ quan hành chính có thẩm quyền xử phạt đều được xử phạt và mức độ xử phạt là như nhau, mà pháp luật chỉ quy định một số chức danh nhất định của cơ quan hành chính đó mới có thẩm quyền xử phạt và quyền hạn xử phạt cũng khác nhau tuỳ theo chức danh mà pháp luật quy định.[12]
5. Các hành vi vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ bị xử lý bằng biện pháp hành chính
Trên cơ sở quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy định cụ thể về các hành vi vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ bị xử lý bằng biện pháp hành chính, gồm:
(i) Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Lut SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT;
(ii) Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
(iii) Nghị định số 47/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan;
(iv) Nghị định số 57/2005/NĐ-CP ngày ngày 27 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 172/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28 tháng 11 năm 2007.
Theo các văn bản pháp luật nói trên, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ bị xử lý bằng biện pháp hành chính gồm:
* Về sở hữu công nghiệp: (1) hành vi vi phạm quy định về thủ tục xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp; (2) vi phạm quy định về hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp; (3) vi phạm quy định trong hoạt động giám định sở hữu công nghiệp; (4) vi phạm quy định về chỉ dẫn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; (5) vi phạm nghĩa vụ bảo mật dữ liệu thử nghiệm khi nộp đơn xin cấp phép kinh doanh, lưu hành dược phẩm, nông hóa phẩm; (6) cản trở bất hợp pháp hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra về sở hữu công nghiệp; (7) hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; (8) hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại; (9) sản xuất, vận chuyển, nhập khẩu, buôn bán vật mang nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý vi phạm; (10) sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ để bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý; (12) cạnh tranh không lành mạnh và hành vi vi phạm bí mật kinh doanh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
* Về quyền tác giả, quyền liên quan: (1) hành vi vi phạm quy định về đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan; (2) hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức đại diện tập thể; (3) hành vi vi phạm quy định trong hoạt động giám định về quyền tác giả, quyền liên quan; (4) hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức tư vấn, dịch vụ; (5) hành vi cản trở bất hợp pháp hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra về quyền tác giả, quyền liên quan; (6) hành vi vận chuyển hàng hóa vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan; (7) hành vi tàng trữ, chứa chấp hàng hóa vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan; (8) hành vi quảng cáo hàng hóa vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan; hành vi xâm phạm quyền đứng tên, đặt tên tác phẩm; (9) hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm; (10) hành vi xâm phạm quyền công bố tác phẩm; (11) hành vi xâm phạm quyền làm tác phẩm phái sinh; (12) hành vi xâm phạm quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng; (13) hành vi xâm phạm quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính; (14) hành vi xâm phạm quyền phân phối dưới hình thức bán tác phẩm; (15) hành vi xâm phạm quyền nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; (16) hành vi xâm phạm quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng; (17) hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm; (18) hành vi làm tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo; (19) hành vi bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo; (20) hành vi xâm phạm quyền áp dụng biện pháp công nghệ để tự bảo vệ quyền tác giả; (21) hành vi chiếm đoạt quyền tác giả; (22) hành vi xâm phạm quyền được giới thiệu tên của người biểu diễn; (23) hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn; (24) hành vi xâm phạm quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của người biểu diễn; (25) hành vi xâm phạm quyền sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn; (26) hành vi xâm phạm quyền phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình; (27) hành vi xâm phạm quyền phân phối đến công chúng bản gốc hoặc bản sao cuộc biểu diễn; (28) hành vi xâm phạm quyền sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình; (29) hành vi xâm phạm quyền phân phối đến công chúng bản gốc hoặc bản sao bản ghi âm, ghi hình; (30) hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình nhằm mục đích thương mại đã công bố; (31) hành vi xâm phạm quyền công bố, sản xuất và phân phối bản ghi âm, ghi hình; (32) hành vi xâm phạm quyền phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng; (33) hành vi xâm phạm quyền phân phối đến công chúng chương trình phát sóng; (34) hành vi xâm phạm quyền định hình chương trình phát sóng; (35) hành vi xâm phạm quyền sao chép chương trình phát sóng; (36) hành vi trích ghép chương trình phát sóng; (37) hành vi xâm phạm quyền áp dụng biện pháp công nghệ để tự bảo vệ quyền liên quan; (38) hành vi chiếm đoạt quyền liên quan.
* Về giống cây trồng: (1) hành vi vi phạm các quy định về xác lập quyền đối với giống cây trồng, gồm các hành vi sau: (a) vi phạm về việc giữ bí mật các thông tin liên quan đến đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng của người nộp đơn; (b) làm sai lệch kết quả thẩm định dẫn đến việc cấp, từ chối cấp, đình chỉ hoặc huỷ bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng; (c) công bố kết quả khảo nghiệm DUS về tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định không đúng sự thật; (d) không thực hiện đúng quy phạm khảo nghiệm DUS đối với giống đăng ký khảo nghiệm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành hoặc chấp nhận; (2) hành vi vi phạm về sử dụng giống cây trồng đã được bảo hộ mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu Bằng bảo hộ giống cây trồng sau: (a) sản xuất hoặc nhân giống; (b) chế biến nhằm mục đích nhân giống; (c) chào hàng; (d) bán hoặc thực hiện các hoạt động tiếp cận thị trường; (đ) xuất khẩu; (e) nhập khẩu; (g) lưu giữ để thực hiện một trong các hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e; (h) thực hiện một trong các hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e đối với giống cây trồng mà việc sản xuất đòi hỏi phải sử dụng lặp lại giống cây trồng đã được bảo hộ; (i) thực hiện một trong các hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này đối với giống cây trồng không có sự khác biệt rõ ràng với giống cây trồng đã được bảo hộ; (k) thực hiện một trong các hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e đối với giống cây trồng có nguồn gốc từ giống cây trồng được bảo hộ, trừ trường hợp giống cây trồng được bảo hộ có nguồn gốc từ một giống cây trồng đã được bảo hộ khác; (3) hành vi vi phạm các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng, gồm các hành vi sau: (a) sử dụng giống cây trồng có tên trùng hoặc tương tự với tên giống cây trồng đã được bảo hộ cho giống cây trồng cùng loài hoặc loài liên quan gần gũi với giống cây trồng đã được bảo hộ; (b) sử dụng giống cây trồng đã được bảo hộ mà không trả tiền đền bù theo quy định tại Điều 189 của Luật Sở hữu trí tuệ; (c) sửa chữa, tẩy xoá một trong các loại giấy tờ sau: Bằng bảo hộ giống cây trồng; hợp đồng chuyển giao, chuyển nhượng và các quyết định liên quan đến quyền đối với giống cây trồng; (d) sử dụng Bằng bảo hộ giống cây trồng giả; Bằng đã hết hiệu lực; Bằng bị đình chỉ hoặc huỷ bỏ hiệu lực để thực hiện quyền đối với giống cây trồng; (đ) tác giả giống cây trồng không thực hiện đúng nghĩa vụ giúp chủ Bằng bảo hộ duy trì vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ; (e) chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng không thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng đã được bảo hộ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; (f) chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng không trả thù lao cho tác giả giống cây trồng theo thoả thuận; không nộp lệ phí duy trì hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng theo quy định; (h) chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng không lưu giữ giống cây trồng được bảo hộ; không cung cấp vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng và không duy trì tính ổn định của giống cây trồng được bảo hộ theo quy định; (i) cung cấp tài liệu, thông tin, chứng cứ sai sự thật khi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp đình chỉ, huỷ bỏ hoặc xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng; (k) không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền của chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng sau khi chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng đã thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó.
II. Kết quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính trong giai đoạn 3 năm: 2006 – 2008
Theo thống kê của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ từ các báo cáo của các ngành, các địa phương vào đầu năm 2009 về công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong 3 năm 2006-2008, các lực lượng thanh tra, kiểm tra ở các bộ và các địa phương đã xử lý trên 19.167 vụ xâm phạm quyền SHTT, tổng số tiền xử phạt trên 16 tỷ đồng, tịch thu xử lý nhiều phương tiện, tang vật vi phạm hành chính khác (chưa kể số vụ việc do lực lượng quản lý thị trường xử lý trong 2 năm 2007, 2008 do chưa có số liệu báo cáo).
Một số kết quả của các lực lượng thực thi trong các lĩnh vực quản lý liên quan đến sở hữu trí tuệ:
(i) Lực lượng thanh tra, kiểm tra chuyên ngành văn hoá, thể thao và du lịch đã kiểm tra đã xử lý trên 5.667 vụ việc liên quan đến việc sao chép băng đĩa, in sách lậu, chương trình máy tính, đã xử phạt cảnh cáo 519 trường hợp, phạt tiền đối với các cơ sở còn lại với số tiền lên đến trên 10 tỷ đồng.[13]
(ii) Thanh tra chuyên ngành KH&CN đã tiến hành thanh tra 3.574 cơ sở, phát hiện và xử lý 459 vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, đã xử phạt cảnh cáo 152 trường hợp, phạt tiền 307 trường hợp với số tiền 1.847.988.200 đồng, buộc tiêu huỷ, loại bỏ yếu tố vi phạm ra khỏi nhiều loại sản phẩm, hàng hoá.
(iii) Lực lượng thanh tra ngành thông tin, truyền thông đã thực hiện thanh tra về bản quyền sử dụng phần mềm máy tính trong doanh nghiệp, thanh tra bản quyền của các phần mềm do doanh nghiệp sản xuất và việc cài đặt, xây dựng các trang Web cho các tổ chức, cá nhân.
(iv) Lực lượng cảnh sát điều tra về tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ đã điều tra phát hiện và bắt giữ 156 vụ và khởi tố nhiều đối tượng có các hành vi sản xuất buôn bán các hàng hoá giả mạo SHTT như: thực phẩm, quần áo, mỹ phẩm, tân dược, rượu, linh kiện. Điển hình là vụ triệt phá đường dây buôn bán thuốc giả Viagra và Cialis từ Trung Quốc vào Việt Nam, với tang vật thu giữ là 13.600 viên thuốc giả, đã khởi tố 02 đối tượng; vụ thu giữ 85 tấn phân NPK giả do Công ty Tân Trường Sinh (Hoài Đức, Hà Nội) sản xuất, vụ việc đã được khởi tố và tiếp tục điều tra các đối tượng liên quan.
(v) Lực lượng hải quan (Bộ Tài chính, đã tiếp nhận và xử lý trên 53 đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu, đơn gia hạn kiểm tra, giám sát có liên quan đến SHTT. Cơ quan hải quan đã ra thông báo tạm thời dừng làm thủ tục hải quan và xử lý 31 trường hợp, trong đó hầu hết là các trường hợp được xác định là có giả mạo về SHTT (điện thoại và linh kiện điện thoại di động, thuốc lá điếu, linh kiện máy tính, túi…). Cơ quan Hải quan đã xử phạt vi phạm hành chính với số tiền khoảng 1,3 tỷ đồng.
(vi) Lực lượng quản lý thị trường riêng trong năm 2006 đã phát hiện và xử lý 12.885 vụ việc sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm quyền, xử phạt hành chính lên đến 4,3 tỷ đồng.[14]
Có thể thấy trong các năm từ 2006 – 2008, hoạt động thanh tra, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm về SHTT do lực lượng chức của các Bộ, ngành địa phương đã được triển khai rộng rãi và ở hầu khắp các lĩnh vực thuộc quản lý nhà nước của các Bộ, ngành và địa phương. Với những nỗ lực của các cơ quan chức năng, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đã góp phần tích cực cho việc tuyên truyền, giáo dục, răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về SHTT, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền, người tiêu dùng, góp phần làm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh và thu hút các nguồn đầu tư vào các hoạt động sáng tạo.
III. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực thực thi bằng biện pháp hành chính
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc Hội thông qua ngày 19/6/2009 và sẽ có hiệu lực vào ngày 1/10/2010. Trong số các điều khoản sửa đổi, có một số quy định liên quan đến biện pháp hành chính trong xử lý vi phạm về sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, quy định về phạm vi, điều kiện áp dụng biện pháp hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã có thay đổi căn bản. Ví dụ, quy định về điều kiện “thông báo” của chủ thể quyền cho đối tượng vi phạm trước đây đã bị huỷ bỏ. Thay vào đó, biện pháp hành chính được áp dụng khi hành vi xâm phạm “gây thiệt hại” cho tác giả, chủ sở hữu. Quy định cần được chi tiết hoá cũng như hướng dẫn thi hành trong văn bản Nghị định.
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 cũng có quy định mới về hình thức phạt tiền, theo đó quy định về mức phạt tiền theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2008 (tối đa đến 500 triệu đồng cho lĩnh vực sở hữu trí tuệ) được áp dụng, thay vì mức phạt từ 1 đến 5 lần giá trị hàng hoá vi phạm theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Quy định mới này cũng cần được hướng dẫn thi hành trong văn bản Nghị định.
Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang gấp rút soạn thảo văn bản nghị định hướng dẫn áp dụng các biện pháp hành chính để xử lý vi phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp theo tinh thần của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 nói trên.
Dự thảo Nghị định hướng dẫn áp dụng các biện pháp hành chính để xử lý vi phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được xây dựng trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:
(i) Các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính được cụ thể hoá cho phù hợp với xử lý vi phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Tránh “dân sự hoá” các quan hệ hành chính, đồng thời tránh “hành chính hoá” các quan hệ dân sự trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Phân biệt rạch ròi phạm vi, điều kiện, trình tự thủ tục, thẩm quyền áp dụng các chế tài dân sự và chế tài xử phạt hành chính trong xử lý vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
(ii) Làm rõ sự khác biệt giữa thủ tục/biện pháp hành chính và thủ tục/biện pháp dân sự trong thực thi quyền sở hữu trí tụê, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò chủ động của cơ quan hành chính trong phát hiện và xử lý hành vi và hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tụê; trách nhiệm của người có thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước và của các bên (bên yêu cầu xử lý, bên bị áp dụng biện pháp hành chính) trong xử lý hành vi và hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
(iii) Tìm ra giải pháp thống nhất giữa các ngành để giải quyết những vấn đề còn bỏ ngỏ, mâu thuẫn hoặc chồng chéo trong xử lý vi phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, đặc biệt quy định pháp luật liên quan đến xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xử lý hàng giả, xử lý hàng xuất, nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đề xuất giải pháp hợp lý nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng các quy định pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau về sở hữu trí tuệ, nhằm đảm bảo hiệu lực của Luật Sở hữu trí tuệ và hiệu quả của công tác thực thi.
(iv) Trên cơ sở rà soát tổng thể quy định của các văn bản pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng các quy định liên quan đến xử lý hành chính các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian vừa qua, đồng thời xem xét các câu hỏi, chất vấn, bình luận của các nước thành viên WTO đối với VN trong thời gian 3 năm kể từ khi VN gia nhập WTO đến nay, đề xuất các quy định sửa đổi, bổ sung cần thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong nước và yêu cầu thực thi “hiệu quả” quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPS và cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Theo kế hoạch Dự thảo Nghị định trên sẽ được trình ký ban hành trong Quý IV năm 2009 để đảm bảo hiệu lực thi hành của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi vào đầu năm 2010.
Ngoài việc hoàn thiện văn bản pháp luật như một công cụ pháp lý cần thiết cho việc áp dụng các biện pháp hành chính trong xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, các cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ, cơ quan thông tin đại chúng và các cơ quan thực thi cần kết hợp để thực hiện các biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao nhận thức của công chúng, doanh nghiệp về thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung, về áp dụng biện pháp hành chính trong xử lý xâm phạm quyền nói riêng. Đồng thời, bên cạnh những nỗ lực nội sinh từ bản thân các cơ quan thực thi, cần mở rộng các chương trình hợp tác và hỗ trợ thực chất và hiệu quả từ phía các tổ chức quốc tế, các hiệp hội doanh nghiệp, các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trong và ngoài nước, nhằm tăng cường năng lực của các cơ quan và đội ngũ cán bộ thực thi quyền sở hữu trí tuệ./.

[1] Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi năm 2009.
[2] Điều 199 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
[3] Điều 214 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
[4] Điều 200 của Luật SHTT 2005.
[5] Khoản 2 Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Khoản 4 Điều 214 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi năm 2009.
[6] Điều 215 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
[7] Điều 215 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Điều 43 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002.
Ví dụ Quyết định tạm giữ số 68/QĐ-TTra của Chánh Thanh tra Bộ KH&CN ngày 28/8/2009 có ghi: “Tạm giữ/tang vật phương tiện vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp của Chủ cửa hàng số xxxs, phố xxx, thành phố Hà Nội”.
[8] Điều 31 của Nghị định 106/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2006 quy định xử phạt hành chính về sở hữu trí tuệ:
Ví dụ Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp của Chánh Thanh tra Bộ KH&CN ngày 19/01/2009 có ghi: “Biện pháp cưỡng chế: Khấu trừ tiền từ tài khoản số 000xxxx (VNĐ); 000xxx (USD) tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á (Hội sở), chuyển đến tài khoản số 921.xxxx tại Kho bạc nhà nước thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số 37 Nguyễn Huệ, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh (tài khoản xử phạt vi phạm hành chính) của Sở Tài chính thành phố Hồ Chí Minh”
[9] Ví dụ Quyết định xử phạt của Chánh Thanh tra Bộ KH&CN số 18/QĐ-TTra ngày 13/4/2009 có ghi hình thức xử phạt chính là: “Phạt tiền, mức phạt 13.100.000 đồng đối với hành vi tàng trữ sản phẩm bim bim gắn dấu hiệu HAITRI xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu HACHI TD THIEN DUC và Hình”.
[10] Ví dụ Quyết định xử phạt của Chánh Thanh tra Bộ KH&CN số 23/QĐ-TTra ngày 21/5/2009 có ghi hình thức xử phạt bổ sung là: “Tịch thu để tiêu huỷ 20 (hai mươi) thùng sản phẩm giấy thơm (ví đôi) và 03 (ba) thùng sản phẩm giấy thơm (ví đơn) giả mạo nhãn hiệu My Lan”.
[11] Ví dụ Quyết định xử phạt của Chánh Thanh tra Bộ KH&CN số 50/QĐ-TTra ngày 03/8/2009 có ghi các biện pháp khắc phục hậu quả là: “Buộc tự loại bỏ yếu tố vi phạm trên sản phẩm là 1000 kg (một nghìn kg) thanh nhôm định hình, 01 khuôn đúc (ký hiệu DT037 08.01.04) để sản xuất thanh nhôm định hình xâm phạm quyền đối với Bằng độc độc quyền giải pháp hữu ích số 551”.
[12] Ví dụ thẩm quyền xử phạt của Thanh tra viên chuyên ngành là: “Phạt cảnh cáo, hoặc phạt tiền đền 500.000 đồng; Chánh Thanh tra Sở KH&CN là: “Phạt cảnh cáo, hoặc phạt tiền đến 30.000 đồng”; Chánh Thanh tra Bộ KH&CN là:”Phạt cảnh cáo, hoặc phạt tiền đến 500..000.000 đồng”; Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt: “Cảnh cáo, hoặc phạt tiền đến 500.000.000 đồng”; ngoài ra còn có nhiều chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác được quy định từ Điều 28 đến Điều 40d Pháp lệnh xử lý vi pham hành chính năm 2002, được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008.
Trong trường hợp hành vi vi phạm bị áp dụng mức phạt vượt quá thẩm quyền thì phải chuyển hồ sơ vụ việc lên cho người có thẩm quyền xử phạt ở mức cao hơn để ra quyết định xử phạt.
Ví dụ Chánh Thanh tra Sở KH&CN chỉ được phép xử phạt tối đa ở mức 70.000.000 đồng, nhưng hành vi vi phạm của đối tượng được pháp luật quy định phải bị xử phạt ở mức trên 70.000.000 đồng, trong trường hợp này Chánh Thanh tra Sở KH&CN phải chuyển hồ sơ vi phạm để Chánh Thanh tra Bộ KH&CN hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định xử phạt.
Trong thực tế đã có trường hợp chuyển hồ sơ như trên: Đoàn thanh tra về sở hữu công nghiệp của Sở KH&CN tỉnh QN đã lập biên bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty gạch gói xxx với số tiền 100.000.000 đồng, số tiền xử phạt này vượt quá thẩm quyền của Chánh Thanh tra Sở KH&CN tỉnh QN, do đó vụ việc đã được chuyển lên Chủ tịch UBND tỉnh QN xử phạt.
[13] Riêng trong năm 2008, Thanh tra Bộ Văn hoá, thể thao và Du lịch đã thụ lý 20 vụ xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính và buộc tiêu huỷ hơn 2.000 chương trình phần mềm máy tính bất hợp pháp; tịch thu và tiêu hủy 2.364 cuốn sách và văn hóa phẩm; 953.477 băng, đĩa và 236.364 vỏ đĩa; yêu cầu tháo gỡ 07 trang web chứa các video clip bất hợp pháp về giải bóng đá ngoại hạng Anh và yêu cầu mạng truyền hình trực tuyến IPTV của Công ty Cổ phần viễn thông FPT (FPT Telecom) dừng phát sóng một số kênh quốc tế không có bản quyền và phạt hành chính 25 triệu đồng đối với công ty này.
[14] Hiện chưa có số liệu báo cáo của Cục Quản lý thị trường – Bộ Công Thương về thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong các năm 2007, 2008.

Bộ hồ sơ đăng ký nhãn hiệu phải có những tài liệu gì

+ Tờ khai yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (trong đó phải có danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu) làm theo mẫu số: 04-NH (02 bản)


+ Mẫu nhãn hiệu (09 mẫu kèm theo, ngoài một mẫu được gắn trên tờ khai)


+ Tài liệu chứng minh quyền đăng ký (giấy đăng ký kinh doanh, hợp đồng thỏa thuận, thư xác nhận, thư đồng ý, quyết định hoặc giấy phép thành lập, điều lệ tổ chức) (01 bản)


+ Giấy ủy quyền nộp đơn (01 bản)


+ Đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận còn phải có Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể/Quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận:


+ Tài liệu chứng minh quyền sử dụng/đăng ký nhãn hiệu chứa các dấu hiệu đặc biệt( tên biểu tượng, cờ, huy hiệu, của cơ quan, tổ chức, dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành, tên nhân vật, hình tượng, tên thương mại, chỉ dẫn xuất xứ, giải thưởng, huy chương, hoặc ký hiệu đặc trưng của sản phẩm, dấu hiệu thuộc phạm vi bảo hộ của kiểu dáng công nghiệp của người khác) (01 bản)

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Những dịch vụ điều tra nhãn hiệu

Nhiều nhãn hiệu kể từ ngày nộp đơn và được cấp văn bằng bảo hộ vì một lý do nào đó mà chủ sở hữu nhãn hiệu, thương hiệu đã không đưa nhãn hiệu vào sử dụng trong thực tế.

Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành, bất kỳ bên thứ ba nào cũng có quyền nộp đơn tới Cục Sở Hữu Trí Tuệ để yêu cầu cơ quan này hủy bỏ hiệu lực của văn bằng bảo hộ của chủ sở hữu với lý do nhãn hiệu đã không được sử dụng trong 5 năm liên tiếp kể từ ngày nộp đơn.

Để có chứng cứ phục vụ cho yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, bên yêu cầu phải tiến hành việc điều tra nhãn hiệu trên thị trường xem nhãn hiệu có được sử dụng hay không sử dụng trên thực tế.

Việt Tín là một đại diện sở hữu trí tuệ, có khả năng trợ giúp các tổ chức và cá nhân trong việc tiến hành điều tra việc sử dụng nhãn hiệu trên thị trường ở các ngành hàng và dịch vụ liên quan.

Kết quả điều tra sẽ có trong vòng 15 ngày làm việc:

Những yêu cầu chấm dứt văn bằng bảo hộ

a. Trình tự thực hiện:

- Tiếp nhận đơn: Thông qua đại diện sở hữu công nghiệp hoặc đơn yêu cầu có thể nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện tới trụ sở Cục Sở hữu trí tuệ

- Xử lý đơn:
Trường hợp chủ văn bằng tự yêu cầu chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ:

+ Kiểm tra đơn về mặt hình thức và đưa ra kết luận về tính hợp lệ của đơn;
+ Kiểm tra hiệu lực của văn bằng bảo hộ yêu cầu chấm dứt;
+ Ra Quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ theo yêu cầu của người nộp đơn.

Trường hợp yêu cầu chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ do người thứ ba thực hiện:

+ Kiểm tra đơn về mặt hình thức (bằng chứng, lý do yêu cầu chấm dứt) và đưa ra kết
luận về tính hợp lệ của đơn;
+ Cục Sở hữu trí tuệ ra thông báo bằng văn bản về ý kiến của người thứ ba cho chủ văn
bằng, ñể chủ văn bằng bảo hộ có ý kiến. Cục Sở hữu trí tuệ có thể tổ chức việc trao đổi ý kiến
trực tiếp giữa người thứ ba và chủ văn bằng bảo hộ;
+ Trên cơ sở xem xét ý kiến của các bên, Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định chấm dứt một
phần/ toàn bộ hiệu lực văn bằng bảo hộ hoặc thông báo từ chối chấm dứt hiệu lực văn bằng
bảo hộ;
+ Quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ được ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc
gia về sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp.
b. Cách thức thực hiện:
- Thông qua đại diện sở hữu công nghiệp hoặc nộp đơn trực tiếp tại trụ sở Cục Sở hữu trí tuệ
- Qua bưu điện.
c. Thành phần, số lượng hồ sơ:
- Thành phần hồ sơ, bao gồm:
+ Tờ khai (02 tờ theo mẫu);
+ Chứng cứ (nếu có);
+ Giấy uỷ quyền (nếu thông qua đại diện);
+ Bản giải trình lý do yêu cầu;
+ Chứng từ nộp phí, lệ phí.
- Số lượng hồ sơ: 01 (bộ).
d. Thời hạn giải quyết: 10 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.
đ. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân, tổ chức.
e. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Sở hữu trí tuệ.
g. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ.
h. Lệ phí:
- Lệ phí và phí đại diện yêu cầu chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ: 5.000.000 đồng.
- Lệ phí công bố Quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ: 120.000 đồng.
i. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Tờ khai chấm dứt/hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ đối tượng
sở hữu công nghiệp (Mẫu kèm theo).
k. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không.
l. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:
- Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
- Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;
- Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ
hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP;
- Thông tư số 22/2009/TT-BTC ngày 04/02/2009 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ
thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp

Giám định sở hữu trí tuệ là gì?

Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân có chức năng giám định sở hữu trí tuệ sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.

2. Giám định sở hữu trí tuệ gồm những nội dung gì?

Giám định sở hữu trí tuệ gồm những nội dung sau đây:

- Xác định phạm vi bảo hộ của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;

- Xác định đối tượng được xem xét có đáp ứng các điều kiện để bị coi là yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hay không;

- Xác định có hay không sự trùng, tương đương, tương tự, gây nhầm lẫn, khó phân biệt hoặc sao chép giữa đối tượng được xem xét với đối tượng được bảo hộ;

- Xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ, xác định giá trị thiệt hại.



3. Giám định sở hữu trí tuệ gồm những lĩnh vực nào?

- Giám định về quyền tác giả và quyền liên quan;

- Giám định về quyền sở hữu công nghiệp;

- Giám định về quyền đối với giống cây trồng.


4. Tổ chức nào có chức năng giám định sở hữu trí tuệ?

Hiện nay chỉ mới có duy nhất Viện khoa học sở hữu trí tuệ Việt Nam (Vietnam Intellectual Property Research Institute – VIPRI) có chức năng giám định sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực quyền sở hữu công ngiệp.

Đối với các lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan và giám định về quyền đối với giống cây trồng thì vẫn chưa có tổ chức nào có đủ thẩm quyền để có thể tiến hành hoạt động giám định trong các lĩnh vực này.


5. Ai cũng có thể thực hiện hoạt động giám định sở hữu trí tuệ?


Không? Chỉ những cá nhân đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định thì mới có chức năng giám định sở hữu trí tuệ. Cụ thể, giám định viên sở hữu trí tuệ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:

- Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Thường trú tại Việt Nam;
- Có phẩm chất đạo đức tốt;
- Có trình độ đại học trở lên về chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp thẻ giám định, đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực đó từ năm năm trở lên và đạt yêu cầu kiểm tra nghiệp vụ về giám định.



6. Giám định sở hữu trí tuệ là hoạt động bắt buộc?

Không? Theo quy định của pháp luật hoạt động giám định sở hữu trí tuệ không phải là hoạt động bắt buộc.


7. Nếu giám định sở hữu trí tuệ không phải là hoạt động bắt buộc vậy tại sao tôi lại phải thực hiện hoạt động này?

Mặc dù giám định sở hữu trí tuệ không phải là hoạt động bắt buộc nhưng kết luận giám định lại là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc.

Hơn nữa, kết luận giám định cũng sẽ là cơ sở rõ ràng và vững chắc để bạn có thể quyết định có nên tiếp tục hay chấm dứt việc yêu cầu xử lý các hành vi xâm phạm quyền đối với các quyền của mình liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp. Ngoài ra, bạn còn có thể tránh được các trường hợp đưa ra các yêu cầu xử lý vi phạm không chính xác hoặc thực hiện các hành vi xâm phạm quyền của người khác.


8. Tôi sẽ phải làm gì khi nhận được kết luận giám định kết luận rằng các nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp mà tôi đang sử dụng là yếu tố xâm phạm quyền của bên thứ ba?


Bạn có thể yêu cầu tổ chức ra kết luận giám định lại hoặc giám định bổ sung để chắc chắn rằng kết luận đã ra là chính xác. Trong thực tế, không thể loại trừ khả năng bên thứ ba đã cung cấp các tài liệu không chính xác cho tổ chức giám định khiến cho kết luận giám định bị sai lệch.

Nếu kết luận giám định không thay đổi bạn nên chấm dứt việc sử dụng các yếu tố đã bị kết luận là xâm phạm quyền của chủ thể khác.

Nếu bạn đang bị xử lý bởi chủ thể quyền hoặc bởi cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm, bạn vẫn có quyền thỏa thuận với chủ thể quyền về biện pháp giải quyết vụ việc sao cho hạn chế tối đa những thiệt hại có thể xảy ra với bạn.



9. Tôi sẽ được hỗ trợ như thế nào khi sử dụng dịch vụ của S&B?


Khi sử dụng dịch vụ của S&B Law liên quan đến giám định sở hữu trí tuệ, bạn sẽ được chúng tôi cung cấp các dịch vụ sau:

- Tư vấn về khả năng thành công của vụ việc, biện pháp, phương hướng và các bước thực hiện tiếp theo để giải quyết vụ việc;
- Soạn thảo, chuẩn bị các tài liệu cần thiết để nộp đơn yêu cầu giám định;

Thay mặt bạn làm việc về giám định